Thứ năm, Ngày 20 Tháng 02 Năm 2020
  • Font size:
  • Decrease
  • Reset
  • Increase

Đối tượng được trợ giúp pháp lý miễn phí

Trợ giúp pháp lý (TGPL) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo quy định của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017.

Luật TGPL năm 2006 chỉ quy định 06 đối tượng được TGPL, tuy nhiên, để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội mới của đất nước, Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng với 14 đối tượng được TGPL (quy định tại điều 7): nhóm người được kế thừa hoàn toàn; nhóm người được kế thừa và mở rộng; nhóm người được bổ sung mới; nhóm người áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính. Cụ thể:

- Người có công với cách mạng và người thuộc hộ nghèo (khoản 1, 2 Điều 7): là đối tượng kế thừa quy định của Luật TGPL 2006 nhằm tiếp tục thực hiện chính sách đền ơn đáp nghĩa, chính sách nhân đạo, chính sách giảm nghèo của Đảng và Nhà nước.

- Trẻ em (khoản 3 Điều 7): Luật TGPL năm 2006 quy định phải là đối tượng “trẻ em không nơi nương tựa” mới được TGPL, tuy nhiên, Luật TGPL 2017 đã kế thừa có mở rộng và quy định thành “trẻ em” cho phù hợp với chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em.

- Người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (khoản 4 Điều 7): so với Luật TGPL 2006, Luật TGPL 2017 đã kế thừa và mở rộng đối tượng TGPL là người dân tộc thiểu số “thường trú” thành đối tượng người dân tộc thiểu số “cư trú” tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Như vậy, dù là người dân tộc thiểu số thường trú hay tạm trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đều có quyền được TGPL.

- Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 5 Điều 7): Đây là đối tượng thuộc diện chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự được Trung tâm TGPL nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý, luật sư bào chữa cho họ. Đây là đối tượng mới được bổ sung so với Luật TGPL 2006 nhằm thực hiện chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi bị buộc tội.

- Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo (khoản 6 Điều 7): là đối tượng mới được bổ sung so với Luật TGPL 2006. Theo quy định hiện nay, mức chênh lệch về thu nhập giữa hộ nghèo và hộ cận nghèo từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, do vậy người thuộc hộ cận nghèo cũng không thể đủ tài chính để thuê luật sư khi có vướng mắc pháp luật cần phải tham gia tố tụng, quan trọng nhất là tố tụng hình sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quy định này nhằm triển khai thực hiện khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền bào chữa và phù hợp với chủ trương giảm nghèo bền vững của Nhà nước, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên Hợp quốc năm 1966.

- Người thuộc một trong các trường hợp có khó khăn về tài chính (khoản 7 Điều 7). Với nguyên tắc cung cấp dịch vụ cho những người yếu thế có khó khăn về tài chính, khoản 7 Điều 7 Luật TGPL 2017 quy định 08 đối tượng như sau: Cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; Người nhiễm chất độc da cam; Người cao tuổi; Người khuyết tật; Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi là người bị hại trong vụ án hình sự; Nạn nhân bạo lực gia đình; Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật phòng, chống mua bán người; Người nhiễm HIV.

Điều kiện khó khăn về tài chính đã được quy định tại Điều 2 Nghị định số 144/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật TGPL 2017. Như vậy, đối với nhóm người này phải đáp ứng hai điều kiện: thuộc một trong tám diện người nêu trên và có khó khăn về tài chính theo hướng dẫn của Chính phủ là người thuộc hộ cận nghèo hoặc người đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng theo quy định của pháp luật. Đây là các đối tượng có khó khăn về tài chính, không có khả năng thuê luật sư khi gặp các vướng mắc pháp luật. Các đối tượng này đã được quy định trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở cho việc xác định đối tượng được TGPL.

                                                                                                                                                     Ngọc Lan - Tổng hợp

HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH BẮC KẠN

Địa chỉ: Tổ 8A, Phường Đức Xuân, Thành phố Bắc Kạn - Tỉnh Bắc Kạn

Điện thoại: 0209 3871 547                               Fax: 0209 3871 547

Trưởng ban biên tập: Bà Hà Thị Liễu - Chủ tịch Hội

Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Bắc Kạn giữ bản quyền nội dung trên website này.